Thứ Tư, 30 tháng 1, 2013

Ngành công nghiệp xi măng vỡ trận

 

Ngành công nghiệp xi măng đang đối mặt với tình trạng dư cung, thiếu đầu ra, hoạt động sản xuất bị ngưng trệ, nợ chồng. Nếu số liệu thống kê của Bộ Công thương là chính xác, thì tại thời điểm cuối năm 2011, đã có trên 4 triệu tấn xi măng tồn kho.

Đến hết năm 2012, dự kiến lượng xi măng tồn kho cao hơn 51,3% so với năm 2011. Có nghĩa là, ngay cả khi một số nhà máy đã ngừng sản xuất và không ít nhà máy đã chạy cầm chừng từ 2 năm nay, cứ 14 tấn xi măng xuất xưởng có 1 tấn nằm lại trong kho!

Tại sao lại có tình trạng trên khi sản xuất xi măng được xác định là ngành công nghiệp quan trọng và ngay cả khi ngành này đã có quy hoạch phát triển? Để trả lời câu hỏi trên, từ số báo này Đầu tư sẽ đăng tải loạt bài phản ánh về thực trạng ngành công nghiệp xi măng Việt Nam.

Những diễn biến của tình hình sản xuất và tiêu thụ xi măng tại Việt Nam trong mây năm gần đây có thể tóm lược như sau: năm 2010, tiêu thụ xi măng của cả nước là trên 49 triệu tấn, nhưng tổng công suất của các nhà máy đã lên đến 57 triệu tấn.           
Ngành công nghiệp xi măng vỡ trận | ảnh 1
Năm 2012, trong khi mức tiêu thụ được dự báo không tăng so với năm 2011, thì năng lực các nhà máy đã là 72 triệu tấn; năm 2013, khi tiếp tục có thêm các nhà máy hoàn tất quá trình xây dựng để đi vào sản xuất, lượng xi măng dư thừa sẽ tiếp tục tăng thêm.

Có hai lý do chính khiến lượng xi măng tồn kho:

Thứ nhất là lý do khách quan. Các số liệu trên còn cho thấy, cùng với những tác động của khủng hoảng kinh tế việc điều chỉnh giảm mạnh lượng vốn đầu tư công đã khiến các bộ, ngành, địa phương chủ động đình hoãn nhiều công trình trước đó đã được đưa vào kế hoạch. Cùng với đó, việc thị trường bất động sản đóng băng đã là những nguyên nhân trực tiếp làm giảm đi đáng kể lượng xi măng được tiêu thụ hàng năm. Đứng về mặt chủ quan, như ý kiến của ông Tống Văn Nga, Nguyên thứ trưởng Bộ Xây dựng thì, “nếu cứ thực hiện đúng như Quyết định 108/2005/QĐ-TTg, thì không có chuyện dư thừa cả chục triệu tấn xi măng như thế này và các nhà máy dở sống, dở chết như hiện nay”. Quan điểm của ông Nga có thể hiểu là, tiên lượng về phân bố và công suất của Ngành trong từng thời kỳ được đề ra trong Quy hoạch là chính xác.

Thứ hai là do thiếu kiên quyết thực hiện Quy hoạch, đặc biệt đối với trong quá trình thực hiện đầu tư để triển khai các dự án mới và điều chỉnh (nâng) các dự án đã đi vào sản xuất.

Đưa ra nhận định như trên bởi lẽ, ông Nguyễn Hoàng Thông, nguyên chuyên viên chính, Vụ Kinh tế Công nghiệp (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) đã cho rằng, “ngành xi măng có cơ sự cung vượt cầu và khó tiêu thụ như ngày hôm nay, theo tôi chính là bởi những dự án đã được xem xét, bổ sung đã làm vỡ Quy hoạch ngành. Những dự án xin bổ sung này, địa phương, chủ đầu tư đệ trình lên cấp trên để phê duyệt. Đến nay, không ai tổng hợp được sau khi bổ sung thêm vào Quy hoạch các dự án mới thì tổng công suất đã lên bao nhiêu”.

Đầu năm 2010, Bộ Xây dựng đã yêu cầu các địa phương và chủ đầu tư báo cáo tình hình triển khai các dự án xi măng để làm cơ sở cho việc lập quy hoạch phát triển công nghiệp xi măng trong giai đoạn tới. Hy vọng, nỗ lực này của Bộ Xây dựng dù là muộn, nhưng chưa phải là quá muộn.
(Theo Đầu tư)

Vật liệu xanh "nhọc nhằn" tìm chỗ đứng trên thị trường VLXD

 

Mặc dù được dự báo trong tương lai gần vật liệu xanh sẽ là sản phẩm chủ đạo của thị trường vật liệu xây dựng, nhưng sản phẩm này lại đang có những bước đi đầu tiên đầy nhọc nhằn để tìm chỗ đứng trên thị trường vật liệu xây dựng Việt Nam.

TS. Trần Văn Huynh, Chủ tịch Hiệp hội Vật liệu xây dựng Việt Nam cho biết, vật liệu xanh đã được sử dụng khá lâu ở các nước phát triển, tuy nhiên ở Việt Nam, loại vật liệu này vẫn còn khá mới mẻ với người tiêu dùng. Vì vậy, cùng với sự trầm lắng của thị trường xây dựng, bất động sản, thì việc người tiêu dùng chưa quen khiến loại vật liệu này gặp khó trong tiêu thụ. Tuy nhiên, ông Huynh dự đoán, trong tương lai, vật liệu xanh thân thiện môi trường sẽ chiếm ưu thế so với các loại vật liệu truyền thống.

Tính riêng thị trường gạch, mỗi năm Việt Nam tiêu thụ khoảng 20 tỷ viên gạch các loại, trong đó gạch không nung chỉ chiếm khoảng 5 - 7% thị phần, tương đương với 30% công suất thiết kế, khiến các doanh nghiệp sản xuất gặp nhiều khó khăn. Để tìm hướng ra cho sản phẩm, các doanh nghiệp sản xuất gạch bê tông khí chưng áp (AAC) phải hướng đến thị trường xuất khẩu.

Ông Đàm Thanh Tùng, Phó tổng giám đốc Công ty Vương Hải, chủ nhãn hiệu gạch AAC V-Block cho biết, để tìm đầu ra cho sản phẩm, duy trì sản xuất, Công ty đã xuất hàng sang Lào, Campuchia và mới đây là thị trường Úc. Tương tự, ông Nguyễn Thạc Quang, Giám đốc Phát triển kinh doanh Công ty Tân Kỷ, chủ nhãn hiệu gạch AAC E-Block cũng cho biết, dù là thương hiệu lớn trong nước về sản phẩm gạch AAC, nhưng việc tiêu thụ ở thị trường nội địa rất hạn chế, nên thị trường tiêu thụ chính của Công ty vẫn là xuất khẩu.
Vật liệu xanh "nhọc nhằn" tìm chỗ đứng trên thị trường VLXD | ảnh 1
Sau một thời gian xuất khẩu, Doanh nghiệp tư nhân Trọng Danh, doanh nghiệp sản xuất gạch ngói làm từ vỏ trấu, nhựa và phế thải công nghiệp mới đây đã chú trọng phát triển thị trường trong nước bằng việc tham gia chương trình “Xây dựng nông thôn mới” tại Hà Tĩnh.

“Để dòng sản phẩm vật liệu xanh mà mình tâm huyết được người tiêu dùng trong nước chấp nhận sử dụng, doanh nghiệp phải đi bằng nhiều chân, lấy ngắn nuôi dài”, ông Phạm Trọng Hoàn, Giám đốc Doanh nghiệp tư nhân Trọng Danh trải lòng khi đứng cạnh ngôi nhà chống lũ có thể nổi trên mặt nước được lắp ghép từ sản phẩm của Công ty.

Trên lĩnh vực gạch bê tông cốt liệu, mới đây, CTCP Chế tạo máy và sản xuất vật liệu mới Trung Hậu, doanh nghiệp chuyên bán dây chuyền sản xuất sản phẩm vật liệu xanh đã hợp tác với CTCP Xi măng Fico để sản xuất gạch bê tông cốt liệu. Sự hợp tác giữa 2 doanh nghiệp này đang có những hiệu quả bước đầu. Ông Trần Trung Nghĩa, Tổng giám đốc Công ty Trung Hậu cho biết, để người tiêu dùng biết và sử dụng rộng rãi hơn các sản phẩm vật liệu xanh, cần phải có những cái bắt tay mạnh hơn nữa giữa các doanh nghiệp để tận dụng thế mạnh của nhau, đặc biệt là giữa doanh nghiệp có công nghệ với doanh nghiệp sản xuất vật liệu truyền thống, đã có hệ thống phân phối rộng khắp.

Không những vật liệu xanh mới xuất hiện khó tiếp cận khách hàng, những sản phẩm tiết kiệm năng lượng, thân thiện với môi trường như bình nước nóng năng lượng mặt trời dù ra đời 6 năm cũng khó tìm được chỗ đứng do nhận thức của người tiêu dùng về sản phẩm này vẫn còn hạn chế.

Thực hiện chính sách tiết kiệm năng lượng, Bộ Công thương đã phối hợp với các doanh nghiệp để đưa sản phẩm bình nước nóng năng lượng mặt trời đến gần hơn với người tiêu dùng bằng cách hỗ trợ tiền lắp đặt.

Mới đây, Bộ Công thương giao cho Công ty SolarBK cùng phối hợp với Hiệp hội Du lịch Việt Nam thực hiện chương trình tiết kiệm năng lượng theo hình thức hợp đồng “chìa khóa trao tay”, lắp đặt hệ thống bình nước nóng tại các khách sạn. Chương trình này đã được các doanh nghiệp đón nhận tích cực.

Ông Tào Văn Nghệ, Tổng giám đốc Khách sạn Rex (Tp.HCM) cho biết, ngoài việc giảm sự phụ thuộc vào nguồn năng lượng truyền thống như điện, xăng dầu, việc lắp đặt bình nước nóng năng lượng mặt trời giúp Khách sạn tiết kiệm được khoản tiền điện không hề nhỏ. Tỷ lệ tiền điện trên doanh thu của Khách sạn giảm từ mức 5% năm 2009 (trước khi lắp đặt hệ thống), xuống còn khoảng 4% hiện nay. Riêng tiền điện trả cho nước nóng năm 2009 là 1,1 tỷ đồng/năm, hiện đã giảm xuống còn khoảng 300 triệu đồng/năm.

Vật liệu xanh ngoài việc giảm thiểu ô nhiễm môi trường, tiết kiệm tài nguyên, còn giảm chi phí giá thành cho các công trình. Nếu công trình sử dụng gạch AAC có thể tiết kiệm 20 - 30% chi phí móng, trong khi đó, gạch bê tông cốt liệu cũng có giá thấp hơn gạch đỏ khoảng 30%, trong khi chất lượng tốt hơn hẳn. Dù có nhiều ưu điểm như trên, nhưng hiện nay, vật liệu xanh vẫn chật vật tìm chỗ đứng. Tuy nhiên, theo đánh giá của các doanh nghiệp và chuyên gia, khó khăn hiện nay chỉ là tạm thời, tương lai, loại vật liệu này sẽ chiếm ưu thế trên thị trường vật liệu xây dựng Việt Nam.

Tin tưởng vào điều này, TS. Hà Lê, Chủ tịch Hội Vật liệu xây dựng Nghệ An đã nghiên cứu cho ra đời sản phẩm xi măng hỗn hợp polime vô cơ - silicat tương đương xi măng PCB độ mác từ 20 - 30, với giá khoảng 760.000 - 790.000 đồng/tấn. Sản phẩm đã được sản xuất thử nghiệm tại 4 nhà máy và sắp tới sẽ được sản xuất đại trà khi TS. Hà Lê phối hợp với trường Đại học Công nghiệp Tp.HCM vừa nghiên cứu ứng dụng và triển khai xây dựng nhà máy sản xuất tại phía Nam.
(Theo ĐTCK)

Công nghiệp xi măng: Đầu tư để... cho vào kho

 

Trong khi số liệu của Bộ Công thương cho thấy, lượng tồn kho của ngành xi măng trong 10 tháng đầu năm tăng 51,3% (xấp xỉ 4 triệu tấn), thì vẫn tiếp tục có hàng chục ngàn tỷ đồng được bỏ ra để làm tăng thêm lượng xi măng tồn kho.

Đặc biệt, năm 2013 sẽ có thêm 2 dự án mới, với tổng công suất trên 2,7 triệu tấn gia nhập thị trường.


Công nghiệp xi măng: Đầu tư để... cho vào kho | ảnh 1
Xuất khẩu clinker, xi măng là công việc mới và rất khó khăn đối với doanh nghiệp xi măng.

Do khó khăn của nền kinh tế nói chung, cầu giảm, dẫn đến vật liệu xây dựng, trong đó có xi măng tiêu thụ khó, nên một loạt doanh nghiệp (DN) xi măng đã gánh chịu những khó khăn. Quản trị DN của một bộ phận nhà đầu tư xi măng còn hạn chế cũng là một nguyên nhân dẫn đến khó khăn của các DN. Chưa kể, các dự án mới đi vào sản xuất, nên lỗ kế hoạch là không tránh khỏi.

Bộ Xây dựng đang hoàn thiện đề án tái cơ cấu ngành. Theo đó, đối với xi măng, sẽ hướng đến phân loại các DN xi măng để có các giải pháp phù hợp. Như có thể chuyển giao vốn, hoặc chuyển giao nguyên trạng DN xi măng cho các DN khác, chẳng hạn chuyển giao DN làm ăn thua lỗ cho các DN đang có lợi thế như Vicem.

Giải pháp nữa là, thoái vốn của các  nhà đầu tư trong và ngoài nước, bán vốn cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước có thế mạnh về tài chính và kinh nghiệm sản xuất xi măng. Hiện nay, các DN như Đồng Bành, Hạ Long đang tập trung đi theo hướng như vậy hoặc giao cho DN khác. Đồng thời, cần có lộ trình tăng vốn điều lệ, huy động thêm các nguồn vốn ngoài xã hội.

Để làm được như vậy, Bộ Xây dựng đề nghị các tổ chức tín dụng trong nước cho khoanh nợ, giãn nợ và cho DN vay vốn, đề nghị bổ sung quy định về chuyển nhượng vốn cho các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là bổ sung quy định về chuyển nhượng vốn nhà nước theo giá thị trường trong trường hợp giá chuyển nhượng thấp hơn mệnh giá để cắt lỗ.

Còn theo thống kê của Bộ Xây dựng, tồn kho xi măng tính đến cuối tháng 10/2012 là 2,6 triệu tấn.

Ùn ùn đổ vốn... góp tồn kho

Thực tế, ngay từ đầu năm 2010, Bộ Xây dựng đã nhìn thấy nguy cơ thừa xi măng và có công văn gửi các địa phương ngừng cấp phép các dự án mới. Tuy nhiên, từ trước đó, những nhà đầu tư có chủ trương xây dựng nhà máy sản xuất xi măng đã có trong tay giấy chứng nhận đầu tư.

Đầu tháng 10 vừa qua, Công ty cổ phần Xi măng Fico (Tây Ninh) đã tiến hành thăm dò địa chất tại khu vực rừng phòng hộ Dầu Tiếng, tiến tới xây dựng dây chuyền 2, công suất 1,5 triệu tấn/năm. Còn tại Ninh Bình, Tập đoàn Xi măng Lucky (100% vốn Đài Loan) đang hoàn thiện dây chuyền 1 công suất 1,8 triệu tấn, nhưng đã có trong tay giấy chứng nhận đầu tư dây chuyền 2 với công suất 1,8 triệu tấn.

Ngoài ra, năm 2013, theo Bộ Xây dựng, năm 2013, Xi măng Trung Sơn công suất 0,91 triệu tấn sẽ đi vào hoạt động trong quý I và nhiều khả năng có thêm cả Xi măng Quảng Phúc, công suất 1,8 triệu tấn đi vào hoạt động. Với suất đầu tư thông thường trong lĩnh vực này là khoảng 130 USD/tấn, thì các doanh nghiệp sẽ cùng nhau góp thêm khoảng 350 triệu USD vào để... tăng thêm lượng xi măng tồn kho!

Không những thế, theo thông tin mới nhất, nếu được khai thông trong đàm phán vay vốn, dự án Nhà máy Xi măng Thanh Sơn tại Thanh Hóa (do Công ty cổ phần Đầu tư và Thương mại Thăng Long làm chủ đầu tư) có tổng mức đầu tư 1.400 tỷ đồng, được khởi công từ tháng 3/2008, sẽ hoàn thành trong quý IV/2014.

Với ngần ấy vốn đầu tư, cơ quan nào có thể kiểm soát được rằng, các chủ đầu tư đã vay bao nhiêu và với những biến động trên thị trường xây dựng, trượt giá sẽ khiến họ phải vay thêm bao nhiêu nữa? Cần phải nhắc lại rằng, năm 2011, Bộ Tài chính đã phải đứng ra trả nợ thay đối với các khoản vay Chính phủ bảo lãnh từ các tổ chức tín dụng quốc tế đối với 4 dự án xi măng gồm: Hoàng Mai, Tam Điệp, Đồng Bành và Thái Nguyên, do nợ đã đến kỳ mà doanh nghiệp không có khả năng trả nợ.

Xuất khẩu xi măng: Không dễ!

Do nguồn cung trong nước đã quá lớn, các doanh nghiệp xi măng từ chỗ chỉ tập trung phát triển thị trường nội địa, đã phải hướng đến xuất khẩu. Xuất khẩu cũng là giải pháp được nhắc đến như một lối thoát cho các dự án xi măng.

Năm 2011 là năm đầu tiên ngành xi măng xuất khẩu được 6 triệu tấn xi măng, clinker, đạt mức cao nhất từ trước tới nay. Hết 10 tháng đầu năm 2012, xuất khẩu xi măng, clinker đã đạt gần 6,9 triệu tấn.

Tuy nhiên, xuất khẩu clinker, xi măng là công việc mới mẻ và rất khó khăn đối với doanh nghiệp xi măng, do cạnh tranh trên thị trường khu vực và thế giới rất gay gắt, các điều kiện logistics của Việt Nam còn yếu kém (phần lớn các nhà máy xi măng đều ở sâu trong nội địa, thiếu cảng nước sâu), nên chi phí vận chuyển đã làm giảm đi rất nhiều lợi thế cạnh tranh của sản phẩm.

Hơn nữa, theo báo giá của các nhà xuất khẩu, giá xuất khẩu clinker, xi măng của Việt Nam đang ở mức thấp, chỉ 36 USD/tấn clinker. Các tính toán cho thấy, hiện nay, suất đầu tư trung bình cho một tấn xi măng theo phương pháp khô (quy mô nhà máy cỡ 1,5 triệu tấn/năm, có công nghệ và thiết bị hiện đại), ở mức từ 125-135 USD/tấn. Nếu chia suất đầu tư theo các nguồn vốn vay để đầu tư thì chi phí đầu tư ở mức từ 25-28 USD/tấn. Còn chi phí sản xuất hiện ở mức từ 30-32 USD/tấn.

Như vậy, giá bán xi măng của Việt Nam phải từ 55-60 USD/tấn mới bảo đảm cho ngành xi măng phát triển bền vững. Trong khi đó, với giá xuất khẩu hiện nay của các doanh nghiệp xi măng, khẳng định của ông Nguyễn Văn Thiện, Chủ tịch Hiệp hội Xi măng Việt Nam, “xuất khẩu clinker với ở mức giá này là chưa đủ bù chi” là hoàn toàn có lý.

Còn theo ông Ngô Đức Lưu, Phó giám đốc Công ty cổ phần Vicem Bút Sơn (Ninh Bình), ngoài những doanh nghiệp thành viên của Vicem đang thực hiện xuất khẩu theo đầu mối từ Vicem, có sự thống nhất chung về giá, thì rất khó kêu gọi các đơn vị ngoài Vicem cùng hợp tác, chia sẻ để đẩy mạnh tiêu thụ xi măng cả ở trong nước lẫn xuất khẩu. “Hầu hết đều chưa gạt bỏ hết lợi ích cục bộ ngắn hạn để cùng hướng đến lợi ích chung lâu dài”, ông Lưu giải thích về hiện tượng các doanh nghiệp trong ngành đua nhau hạ giá xuất khẩu để giành khách hàng.

Với thực tế trên, xuất khẩu xi măng chỉ là lối thoát kỳ vọng đối với nhiều dự án xi măng. Hết 3 quý đầu năm 2012, Xi măng Vicem Hoàng Mai có số tài sản nằm ở hàng tồn kho trị giá trên 394 tỷ đồng, bao gồm cả nguyên vật liệu,  thành phẩm, chi phí kinh doanh dở dang.

Dù đã rất nỗ lực, nhưng lượng xuất khẩu của Vicem Hà Tiên thời gian vừa qua chẳng đáng để kể ra. “Ông lớn” của Tổng công ty Công nghiệp xi măng (Vicem) này cũng đang bị nghi ngờ về khả năng thanh toán nợ. Lợi nhuận sau thuế của HT1 liên tục sụt giảm từ mức 160 tỷ đồng năm 2009, xuống còn 60 tỷ đồng năm 2010 và đến năm 2011 lỗ gần 9 tỷ đồng, năm 2012 dự kiến lãi 9 tỷ đồng. Trong khi đó, tính đến thời điểm 31/6/2012, Vicem Hà Tiên là đơn vị có dư nợ lớn nhất trong số các công ty xi măng niêm yết với 11.105 tỷ đồng.

Không những thế, từ cuối năm 2011 đến nay, ngành xi măng đã chứng kiến một loạt dự án dừng sản xuất hoặc giảm công suất để tránh thua lỗ thêm. Xi măng Thanh Liêm (Hà Nam) phải dừng sản xuất vì không còn vốn hoạt động, nợ lương công nhân. Xi măng Đồng Bành dừng hoạt động từ tháng 3/2012. Xi măng Hoàng Thạch với 3 dây chuyền có thời điểm đã phải tạm dừng khai thác dây chuyền.


Cung tăng nhiều mà cầu chưa tăng”

Ông Lương Quang Khải, Chủ tịch Hội đồng Thành viên Tổng công ty Công nghiệp Xi măng Việt Nam

Việc một số nhà máy xi măng mới tiếp tục đi vào hoạt động càng làm cho thị trường cạnh tranh gay gắt, tồn kho có chiều hướng tăng lên, bởi cung tăng nhiều mà cầu chưa tăng mấy. Chưa kể, trong khi chi phí đầu vào tăng mạnh (chỉ tính riêng từ năm 2011 đến nay, mặt hàng than đã tăng giá tới 170%, điện tăng 19%, dầu 40%...), giá bán không tăng được đã ảnh hưởng lớn đến doanh thu và lợi nhuận của các dự án xi măng.

Một số nhà máy sẵn sàng phá giá”

Ông Đào Ngọc Bình, Tổng giám đốc Công ty TNHH một thành viên Xi măng Vicem Hoàng Thạch,

Chưa năm nào, tiêu thụ xi măng khó khăn như năm 2012. Lượng khách hàng đến Hoàng Thạch không giảm, nhưng nhiều khách hàng muốn mua chịu. Một số nhà máy xi măng không thuộc Vicem trên địa bàn Hải Dương do gặp khó khăn trong tiêu thụ, nên sẵn sàng bán phá giá (có lúc lên tới 500.000 đồng/tấn) cốt để thu hồi vốn, khiến chúng tôi không cạnh tranh nổi.

Cần khởi động lại các dự án công”

Ông Bùi Trần Đông, Tổng giám đốc Tổng công ty Công nghiệp Mỏ Việt Bắc (VVMI, thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam - Vinacomin)

Việc có thêm các nhãn hiệu xi măng mới ra mắt thị trường tại thời điểm 2011-2012 chưa gây ảnh hưởng nhiều tới Vinacomin, vì năm 2012, chúng tôi vẫn cố gượng được bằng cách đẩy mạnh bán hàng. Tuy nhiên, năm 2013 thì chưa có dấu hiệu gì sáng sủa cả.

Điều mà tôi băn khoăn là, sau khi dốc hết vốn vào xây dựng nhà máy, đến khi hoàn thành, liệu các dự án xi măng đang được triển khai, chuẩn bị đưa vào hoạt động cuối năm 2012, đầu năm 2013 có thể vào rơi cảnh không còn vốn lưu động để sản xuất. Trong khi đó, việc huy động vốn từ các ngân hàng sẽ rất khó, bởi trong giai đoạn này, các ngân hàng đều nói không với xi măng.

Nếu Chính phủ không nhanh chóng có những chính sách để khởi động lại các dự án đầu tư công, nới lỏng tín dụng cho thị trường bất động sản, thì nhiều dự án xi măng sẽ chết thảm trong năm tới và Vinacomin cũng không là trường hợp ngoại lệ.

Đưa xi măng vào các công trình giao thông

Ông Nguyễn Hoàng Thông, nguyên chuyên viên chính Vụ Công nghiệp (Bộ Kế hoạch và Đầu tư)

Vào năm 2005, thời điểm làm Quy hoạch Phát triển ngành xi măng giai đoạn 2005-2010, định hướng đến năm 2020, tôi đã đề nghị đưa xi măng vào các công trình giao thông, nhưng gần đây, mới thấy các bên đề cập chuyện này. Cứ như vậy, chẳng biết bao giờ xi măng mới vào được các công trình giao thông.
(Theo Đầu tư)

Ngành thép nhập siêu, nhiều nhà thầu ăn tết sớm

 

Theo Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA), tính từ đầu năm đến giữa tháng 10-2012 ngành thép đã nhập siêu hơn 4,7 tỉ đô la Mỹ. Các sản phẩm thép nhập vào Việt Nam chủ yếu là thép tấm lá đen, thép cuộn, thép phế và phôi thép.

Cụ thể, theo một báo cáo VSA cung cấp cho Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online chiều nay (15/11), hiệp hội này cho biết tổng lượng thép nhập khẩu vào Việt Nam tính đến ngày 15/10 đạt gần 9 triệu tấn với kim ngạch khoảng 6,2 tỉ đô la Mỹ.

Ngành thép nhập siêu, nhiều nhà thầu ăn tết sớm | ảnh 1
Chỉ trong hơn 10 tháng đầu năm 2012, ngành thép Việt Nam đã nhập siêu hơn 4,7 tỉ đô la Mỹ - Ảnh: Văn Nam

Trong khi đó, tổng lượng thép thành phẩm và nguyên liệu để sản xuất thép các doanh nghiệp thép trong nước xuất khẩu được trong 10 tháng đầu năm đạt khoảng 1,6 triệu tấn với tổng kim ngạch gần 1,5 tỉ đô la Mỹ.

Trong đó nhiều nhất là xuất thép tấm lá với hơn 353.000 tấn, kế đến là thép xây dựng 268.000 tấn, ống thép hàng 151.000 tấn …

Các nhà sản xuất thép xây dựng trong nước đang lo ngại lượng thép xây dựng giá rẻ nhập khẩu, đặc biệt là từ Trung Quốc đang ảnh hưởng mạnh đến sản xuất trong nước.

VSA cho biết cuối tháng 10 vừa qua, hiệp hội đã làm việc với các cơ quan chức năng bàn biện pháp kiểm soát thép nhập khẩu từ Trung Quốc vào Việt Nam đang làm ảnh hưởng đến sản xuất tiêu thụ thép trong nước, đặc biệt là thép cuộn phi 6, phi 8 có chứa kim loại Boron.

Theo số liệu hải quan thì lượng thép cuộn có chứa hợp kim Boron nhập từ Trung Quốc vào Việt Nam chỉ trong 7 tháng năm 2012 đã gấp 5,5 lần cùng kỳ năm 2011.

Nhiều nhà thầu xây dựng “ăn tết” sớm

Mặc dù đã sang tháng 11, thời điểm nhiều công trình xây dựng đẩy nhanh tiến độ hoàn thành kế hoạch năm như các năm trước, song điều đó đã không xảy ra trong năm nay. Tiêu thụ các loại vật liệu xây dựng theo đó tiếp tục giảm sâu so với cùng kỳ năm 2011.

Trao đổi với Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online hôm 15/11, một số nhà thầu xây dựng tại Tp.HCM cho biết đã hết việc từ vài tuần nay, một số chỉ còn lại vài công trình sửa chữa nhỏ lẻ, không nhộn nhịp như mọi năm.

Ông Phạm Quỳnh, một nhà thầu ở quận 10, Tp.HCM than thở: “Còn gần 3 tháng nữa mới tết nhưng năm nay không nhiều công trình như năm ngoái, chắc là phải cho thợ thầy nghỉ về quê ăn tết sớm. Chưa bao giờ công trình xây dựng lại bi đát như năm nay”.

Công trình xây dựng chững lại cũng khiến việc sản xuất, kinh doanh nhiều loại vật liệu xây dựng ế ẩm theo.

Ngoài việc phải tiết giảm sản xuất, để giảm lượng hàng tồn kho, nhiều doanh nghiệp sản xuất thép từ giữa tháng 10 đến nay đã giảm giá bán với mức bình quân 220.000 - 400.000 đồng/tấn.

Cũng theo VSA, hiện giá thép xây dựng của VNSteel hay VinaKyoei ở miền Nam dao động khoảng 16,3 triệu đồng/tấn, còn miền Bắc dao động khoảng 14- 14,2 triệu đồng/tấn.
(Theo TBKTSG)